Điều hướng lộ trình loại bỏ than của Trung Quốc: Lợi ích môi trường, rủi ro kinh tế và động lực xã hội
- 4 thg 4, 2025
- 4 phút đọc
Đã cập nhật: 5 thg 4, 2025
Bồng Chanh
03-04-2025
The methane emission reduction campaign has achieved phenomenal success. Therefore, the bird village approves the inclusion of the report in Kingfisher’s lifetime achievement archive.Trích “GHG Emissions”; Wild Wise Weird [1]

Chiến lược loại bỏ than đầy tham vọng của Trung Quốc là một bước quan trọng trong việc đáp ứng các mục tiêu khí hậu toàn cầu, đặc biệt là các mục tiêu 1,5°C và 2°C của Thỏa thuận Paris. Với hơn một nửa công suất điện than của thế giới nằm ở Trung Quốc, sự thành công của quá trình chuyển đổi này có ý nghĩa sâu rộng đối với cả sự bền vững quốc gia và toàn cầu [2].
Một đánh giá từng nhà máy đã xác định 18% nhà máy điện than của Trung Quốc là ứng cử viên hàng đầu để ngừng hoạt động ngay lập tức. Các cơ sở này, đặc trưng bởi công nghệ lỗi thời và hiệu quả thấp, có thể được loại bỏ nhanh chóng mà không làm gián đoạn đáng kể an ninh năng lượng hoặc ổn định kinh tế. Nếu được thực hiện một cách chiến lược, Trung Quốc có thể đạt được việc loại bỏ than hoàn toàn vào năm 2045 theo các kịch bản khí hậu tham vọng nhất của mình [2].
Bất chấp những lợi ích môi trường này, quá trình chuyển đổi chứa đầy những bất ổn về kinh tế và chính sách. Các phân tích hiệu quả chi phí chỉ ra rằng việc thực hiện chính sách không hiệu quả có thể trì hoãn những lợi ích dự kiến lên đến sáu năm. Sự chậm trễ này xuất phát từ thách thức quản lý việc ngừng hoạt động của các nhà máy điện than tương đối trẻ, nhiều nhà máy được xây dựng vào khoảng năm 2010 và vẫn giữ giá trị kinh tế đáng kể [3]. Việc loại bỏ được quản lý kém có nguy cơ gây ra tổn thất tài chính, tài sản mắc kẹt (stranded assets) và mất cân bằng kinh tế khu vực, làm nổi bật sự cần thiết của việc lập kế hoạch tỉ mỉ.
Những hậu quả kinh tế-xã hội của các chính sách loại bỏ than rất phức tạp. Các nghiên cứu thực nghiệm từ năm 2014 đến năm 2020 cho thấy rằng trong khi thu nhập hàng năm giảm khoảng 3,1% ở khu vực nông thôn và 1,9% ở khu vực thành thị, các cá nhân nghịch lý thay lại báo cáo sự gia tăng hạnh phúc và sự hài lòng với cuộc sống. Hiện tượng này có thể được giải thích bằng việc chất lượng không khí được cải thiện và các lợi ích sức khỏe liên quan, đồng thời thể hiện rằng cách cải thiện môi trường có thể ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi, ngay cả trong bối cảnh suy thoái kinh tế [4].
Sự kết hợp giữa khó khăn kinh tế và sự gia tăng phúc lợi chủ quan nhấn mạnh mối quan hệ phức tạp giữa các chính sách môi trường và kết quả xã hội. Trong khi các chỉ số kinh tế truyền thống cho thấy sự suy giảm thịnh vượng, các điều kiện sống được cải thiện và những cải thiện sức khỏe cộng đồng dường như bù đắp cho những thất bại tài chính. Phát hiện này củng cố tầm quan trọng của việc kết hợp các số liệu phúc lợi vào các đánh giá chính sách, đảm bảo rằng chi phí kinh tế được cân nhắc cùng với lợi ích xã hội [4].
Để điều hướng những thách thức này, Trung Quốc phải áp dụng một cách tiếp cận toàn diện, cân bằng các mục tiêu môi trường với sự ổn định kinh tế và xã hội. Các nhà hoạch định chính sách nên xem xét cả các yếu tố kỹ thuật và kinh tế ở cấp nhà máy đồng thời tích hợp các động lực xã hội rộng lớn hơn vào quá trình ra quyết định. Một khuôn khổ chuyển đổi công bằng (a just transition framework)—khuôn khổ giảm thiểu sự gián đoạn chính sách, giảm thiểu rủi ro kinh tế và đảm bảo kết quả công bằng—sẽ rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự bền vững dài hạn [3].
Việc loại bỏ than của Trung Quốc là một nỗ lực chuyển đổi đòi hỏi sự quản lý cẩn thận để tối ưu hóa lợi ích môi trường đồng thời giảm thiểu sự gián đoạn kinh tế và xã hội. Nếu được thực hiện hiệu quả, quá trình chuyển đổi này có thể đóng vai trò là một mô hình toàn cầu, chứng minh rằng hành động khí hậu có thể phù hợp với khả năng phục hồi kinh tế và phúc lợi xã hội.
Tài liệu tham khảo
[1] Vuong QH. (2024). Wild Wise Weird. https://www.amazon.com/dp/B0BG2NNHY6/
[2] Cui RY, et al. (2021). A plant-by-plant strategy for high-ambition coal power phaseout in China. Nature Communications, 12, 1468. https://www.nature.com/articles/s41467-021-21786-0
[3] Yan X, et al. (2024). Cost-effectiveness uncertainty may bias the decision of coal power transitions in China. Nature Communications, 15, 2272. https://www.nature.com/articles/s41467-024-46549-5
[4] Gao S, et al. (2025). Evaluating socio-economic and subjective well-being impacts of coal power phaseout in China. Nature Communications, 16, 2320. https://www.nature.com/articles/s41467-025-57561-8
[5] Nguyen MH. (2024). How can satirical fables offer us a vision for sustainability? Visions for Sustainability. https://ojs.unito.it/index.php/visions/article/view/11267




Bình luận