Liệu tiền bạc có thể một mình bảo vệ thiên nhiên? Tầm quan trọng của trí tuệ trong tài chính cho đa dạng sinh học
- 1 ngày trước
- 7 phút đọc
Nguyen Minh Hoang
ISR, Phenikaa University
18-05-2026

Các mục tiêu toàn cầu về đa dạng sinh học liên tục không đạt được kỳ vọng, và một lời giải thích ngày càng phổ biến là thế giới đơn giản chưa đầu tư đủ nguồn lực tài chính cho thiên nhiên. Các khoản đầu tư hiện nay dành cho bảo tồn đa dạng sinh học được ước tính thấp hơn từ 5–7 lần so với mức cần thiết để ngăn chặn và đảo ngược tình trạng suy giảm đa dạng sinh học (Deutz et al., 2020). Do đó, các chính phủ, tổ chức tài chính và các tổ chức quốc tế ngày càng tìm kiếm các giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn tư nhân tham gia vào các hoạt động bảo tồn (OECD, 2020).
Chiến lược này đã thúc đẩy sự xuất hiện của một thế hệ công cụ tài chính liên quan đến thiên nhiên, bao gồm tín chỉ đa dạng sinh học, trái phiếu xanh, các cơ chế bù trừ sinh thái và các mô hình tài chính hỗn hợp (CBD, 2022). Ý tưởng cốt lõi của các cơ chế này cho rằng nếu việc bảo vệ hệ sinh thái có thể trở nên hấp dẫn về mặt tài chính, các nhà đầu tư tổ chức quy mô lớn—như quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và các quỹ quản lý tài sản—có thể chuyển hướng những dòng vốn khổng lồ vào bảo tồn thiên nhiên. Khuôn khổ Đa dạng Sinh học Toàn cầu Côn Minh–Montreal phản ánh rõ xu hướng này. Trong khi các cam kết tài trợ công chỉ vào khoảng 30 tỷ USD mỗi năm đến năm 2030, khuôn khổ này đặt mục tiêu huy động ít nhất 200 tỷ USD mỗi năm, chủ yếu thông qua các cơ chế tài chính tư nhân.
Thoạt nhìn, đây có vẻ là một giải pháp thực tiễn. Tuy nhiên, phân tích gần đây của Kedward và các cộng sự chỉ ra rằng tồn tại một vấn đề quan trọng nằm bên dưới cách tiếp cận này: đa dạng sinh học và thị trường tài chính không phải lúc nào cũng vận hành theo cùng một logic (Kedward et al., 2026).
Các thị trường tài chính thường tìm kiếm những đặc điểm như tính tiêu chuẩn hóa, khả năng mở rộng, tính thanh khoản và lợi nhuận có thể dự đoán được. Trong khi đó, thiên nhiên hiếm khi vận hành theo những khuôn mẫu tiêu chuẩn như vậy. Các hệ sinh thái mang tính đa dạng cao, luôn biến đổi và phụ thuộc mạnh mẽ vào bối cảnh cụ thể (Dempsey, 2016; Dempsey & Suarez, 2016). Lợi ích từ việc phục hồi rừng, đất ngập nước hay sinh cảnh động vật hoang dã có thể chỉ xuất hiện sau nhiều thập kỷ, trong khi các nhà đầu tư thường ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn hơn. Đồng thời, việc giám sát và đánh giá hiệu quả bảo tồn cũng phức tạp và tốn kém. Do đó, nhiều dự án bảo tồn hiện nay vẫn chỉ giới hạn trong các danh mục đầu tư nhỏ dành cho các nhà đầu tư hướng đến tác động xã hội thay vì thu hút được các định chế tài chính lớn.
Những nỗ lực nhằm biến bảo tồn trở nên “thân thiện hơn với thị trường” cũng thường tạo ra các kết quả đáng thất vọng. Một số chương trình tín chỉ bù trừ đa dạng sinh học cho thấy lợi ích sinh thái yếu hoặc thậm chí không tạo ra tác động bảo tồn bổ sung đáng kể nào. Các nghiên cứu về các sản phẩm tài chính gắn với mục tiêu bền vững cũng phát hiện rằng nhiều mục tiêu môi trường được đặt ra quá yếu, không phù hợp, hoặc đã được hoàn thành trước cả khi khoản đầu tư được triển khai (Gibbons et al., 2017; Badgley et al., 2022; Coffield et al., 2022). Trong những trường hợp như vậy, hiệu quả tài chính dần lấn át hiệu quả sinh thái.
Kedward và các cộng sự cho rằng vấn đề không nằm ở việc lựa chọn giữa thị trường tư nhân và nguồn vốn công. Việc xem bảo tồn đa dạng sinh học như một cuộc cạnh tranh giữa hai hình thức này có nguy cơ tạo ra một sự đối lập giả tạo. Thay vào đó, việc hiện thực hóa các mục tiêu của Khuôn khổ Đa dạng Sinh học Toàn cầu sau năm 2020 có lẽ cần một hệ thống cân bằng hơn, kết hợp giữa đầu tư công, tài chính tư nhân và sự tham gia tích cực của xã hội dân sự (Kedward et al., 2023).
Sự cân bằng này đòi hỏi phải nhận thức rằng các hệ sinh thái khác nhau sở hữu những đặc điểm sinh thái và thông tin khác nhau. Một số hoạt động bảo tồn đòi hỏi chi phí lớn ngay từ đầu nhưng mang lại lợi ích dài hạn, không chắc chắn và khó lượng hóa bằng tiền—chẳng hạn như bảo vệ rừng nguyên sinh hay duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái. Những dự án như vậy có thể phù hợp hơn với sự hỗ trợ từ khu vực công vì giá trị của chúng vượt xa các lợi ích tài chính ngắn hạn. Chính phủ và các tổ chức tài chính công có thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ thường ưu tiên lợi ích xã hội và sinh thái rộng hơn thay vì lợi nhuận tức thời. Đồng thời, việc chuyển hướng các khoản trợ cấp gây hại cho môi trường—được ước tính vào khoảng 500 tỷ USD mỗi năm trên toàn cầu—có thể tạo ra một nguồn tài chính đáng kể cho bảo tồn mà không nhất thiết làm gia tăng gánh nặng nợ công.
Ngược lại, một số can thiệp khác có thể phù hợp hơn với đầu tư tư nhân. Ví dụ, các dự án phục hồi sinh cảnh hoặc tạo lập sinh cảnh mới thường tạo ra các kết quả dễ đo lường hơn và có nguy cơ thấp hơn về tính “không bổ sung” sinh thái, khiến chúng trở thành những ứng viên phù hợp hơn cho các cơ chế tài chính dựa trên thị trường. Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp này, các cơ chế giám sát, minh bạch và trách nhiệm giải trình mạnh mẽ vẫn là điều cần thiết để đảm bảo rằng mục tiêu sinh thái không bị hy sinh trước áp lực tối ưu hóa lợi nhuận tài chính.
Thách thức này còn trở nên phức tạp hơn ở quy mô toàn cầu. Nhiều quốc gia giàu đa dạng sinh học ở khu vực Nam bán cầu đang phải đối mặt với gánh nặng nợ công gia tăng và tính dễ tổn thương trước biến đổi khí hậu, làm hạn chế khả năng đầu tư cho bảo tồn dù họ đang bảo vệ các hệ sinh thái mang lại lợi ích cho toàn nhân loại. Nếu sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt sinh thái được thừa nhận là một thực tế toàn cầu, thì các cơ chế tài chính cũng cần phản ánh tính kết nối đó. Những cách tiếp cận mang tính tái phân phối nhiều hơn—như xóa nợ hoặc xây dựng các hệ thống thuế quốc tế công bằng hơn—có thể là cần thiết để cân bằng dấu chân sinh thái không tương xứng của các nền kinh tế giàu có hơn (Kedward và cs., 2023).
Sống hài hòa với thiên nhiên đòi hỏi nhiều hơn là chỉ tìm kiếm các nguồn tài chính mới. Nó cần một sự hiểu biết sâu sắc hơn về việc nguồn lực tài chính nên được tạo ra từ đâu, được phân bổ như thế nào và phối hợp ra sao để các hình thức đầu tư khác nhau có thể vận hành một cách cộng hưởng trong mạng lưới tương tác rộng lớn giữa con người và tự nhiên. Đây cũng là lúc nhân loại có thể cần đến một dạng trí tuệ sâu sắc hơn về thiên nhiên (Nguyen & Ho, 2026). Nếu thiếu đi Trí tuệ Sinh thái (Nature Quotient – NQ), chúng ta có nguy cơ tiếp tục cố gắng ép thiên nhiên vận hành theo logic của thị trường, thay vì thiết kế lại thị trường để phù hợp hơn với những thực tại và sự phức tạp vốn có của tự nhiên (Vuong, 2025; Khuc & Nguyen, 2026).
References
Badgley, G. et al. (2022). Systematic over-crediting in California’s forest carbon offsets program. Global Change Biology, 28(4), 1433–1445. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/gcb.16008
CBD. (2022). COP15: Nations Adopt Four Goals, 23 Targets for 2030 In Landmark UN Biodiversity Agreement. Official CBD Press Release, Convention on Biological Diversity. https://www.cbd.int/article/cop15-cbdpress-release-final-19dec2022
Coffield, S. R. et al. (2022). Using remote sensing to quantify the additional climate benefits of California forest carbon offset projects. Global Change Biology, 28(22), 6789-6806. https://doi.org/10.1111/gcb.16380
Dempsey, J. (2016). Enterprising nature: economics, markets, and finance in global biodiversity politics. Wiley Blackwell.
Dempsey, J. & Suarez, D. C. (2016). Arrested development? The promises and paradoxes of “selling nature to save it”. Annals of the American Association of Geographers, 106, 653–671. https://doi.org/10.1080/24694452.2016.1140018
Deutz, A., et al. (2020). Financing Nature: Closing the global biodiversity financing gap. https://www.paulsoninstitute.org/wp-content/uploads/2020/10/FINANCING-NATURE_Full-Report_Final-with-endorsements_101420.pdf
Gibbons, P., et al. (2017). Outcomes from 10 years of biodiversity offsetting. Global Change Biology, 24(2), e643-e654. https://doi.org/10.1111/gcb.13977
Kedward, K., et al. (2023). Heavy reliance on private finance alone will not deliver conservation goals. Nature Ecology & Evolution, 7, 1339–1342. https://doi.org/10.1038/s41559-023-02098-6
Khuc, V. Q. & Nguyen, M. H. (2026). Cultural Additivity Theory. https://books.google.com/books?id=Y4XZEQAAQBAJ
Nguyen, M. H., & Ho, M. T. (2026). The absurdist approach to unveiling possible paradoxical thinking for innovative socio-psychological research. MethodsX, 16, 103910. https://doi.org/10.1016/j.mex.2026.103910
OECD. (2020). A Comprehensive Overview of Global Biodiversity Finance. https://www.oecd.org/environment/resources/biodiversity/report-a-comprehensive-overview-ofglobal-biodiversity-finance.pdf
Vuong, Q. H. (2025). Wild Wise Weird. AISDL. https://books.google.com/books?id=C5dDEQAAQBAJ




Bình luận