top of page

Xây dựng một châu Âu trung hòa khí hậu trong khi xử lý di sản độc hại của quá khứ

  • 27 thg 5
  • 5 phút đọc

Hoàng Minh Anh

Đại học Công đoàn, Hà Nội, Việt Nam

*Liên hệ: anhhm@dhcd.edu.vn

25-05-2026


© Wix
© Wix

Trong ba thế kỷ qua, nhân loại đã tái định hình Trái Đất với quy mô chưa từng có. Sự phát triển của nhà máy, đô thị, hệ thống giao thông và công nghiệp đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của hàng triệu người, nhưng đồng thời cũng làm thay đổi khí quyển và các hệ sinh thái của hành tinh (Crutzen, 2002). Ngày nay, các nhà khoa học ngày càng sử dụng khái niệm Kỷ Nhân sinh (Anthropocene) để mô tả thời đại hiện nay—một giai đoạn mà các hoạt động của con người đã trở nên đủ mạnh để tác động đến chính các quá trình vận hành của Trái Đất (Zalasiewicz et al., 2014).


Biến đổi khí hậu có lẽ là hệ quả dễ nhận thấy nhất của quá trình này. Các dự báo hiện nay cho thấy nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm khoảng 2,2–3,5°C trong thế kỷ này nếu xu hướng hiện tại tiếp tục kéo dài. Để ứng phó, nhiều quốc gia trên thế giới đã theo đuổi các mục tiêu đầy tham vọng như Thỏa thuận Paris hay cam kết của Liên minh châu Âu về việc đạt mức trung hòa khí hậu vào năm 2050. Phần lớn những nỗ lực này tập trung vào việc giảm phát thải từ năng lượng, giao thông và các công trình xây dựng.


Tuy nhiên, ẩn dưới những sáng kiến khí hậu ấy lại tồn tại một thách thức khác ít được chú ý hơn: amiăng.


Trong nhiều thập kỷ, amiăng từng được xem là một “vật liệu kỳ diệu”. Với đặc tính bền chắc, chịu nhiệt tốt, linh hoạt và giá thành thấp, nó đã được ứng dụng trong hàng nghìn lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Vào thời kỳ đỉnh cao trong những năm 1960–1970, amiăng xuất hiện trong hơn 3.000 loại sản phẩm (Virta, 2002). Thậm chí cho đến ngày nay, mái lợp xi măng–amiăng vẫn là loại vật liệu chứa amiăng phổ biến nhất trên thế giới, chiếm hơn 80% tổng số sản phẩm amiăng hiện đang tồn tại (Collegium Ramazzini, 2010).


Vấn đề nằm ở chỗ điều từng được xem là thành tựu công nghệ sau này lại bộc lộ những cái giá nghiêm trọng. Các sợi amiăng cực nhỏ được giải phóng thông qua quá trình phong hóa, sự xuống cấp của mái nhà theo thời gian hoặc trong quá trình tháo dỡ có thể phát tán vào không khí và xâm nhập vào cơ thể con người. Việc phơi nhiễm amiăng có liên quan đến nhiều bệnh lý nguy hiểm như ung thư phổi và ung thư trung biểu mô. Mặc dù nhiều quốc gia đã hạn chế hoặc cấm sử dụng vật liệu này, một khối lượng khổng lồ amiăng vẫn còn tồn tại trong các công trình xây dựng hiện nay (Krówczyńska & Wilk, 2019).


Điều này tạo ra một nghịch lý của Kỷ Nhân sinh: nhân loại đang nỗ lực xây dựng một tương lai xanh hơn trong khi vẫn phải mang theo những di sản độc hại từ các làn sóng phát triển trước đó.


Một nghiên cứu xuyên quốc gia gần đây ở các nước châu Âu được công bố trên The Anthropocene Review đã chỉ ra sự khác biệt đáng kể về mức độ sẵn sàng trong việc loại bỏ amiăng. Trong số các quốc gia như Đức, Pháp, Ý, Ba Lan, Tây Ban Nha và Bỉ, Ba Lan nổi lên như một ví dụ điển hình nhờ việc thiết lập các mốc pháp lý rõ ràng, cơ sở dữ liệu tập trung và các chương trình tài trợ được phối hợp hiệu quả. Những hệ thống này giúp chính phủ không chỉ xác định nơi amiăng tồn tại mà còn hỗ trợ quá trình loại bỏ an toàn, đồng thời kết hợp với các chương trình cải tạo năng lượng quy mô lớn hơn (Wilk & Krówczyńska, 2025).


Dưới góc nhìn của Trí tuệ Sinh thái (NQ), vấn đề này cho thấy một bài học quan trọng (Vuong, 2025; Tran, 2026). NQ nhấn mạnh việc hiểu các mối quan hệ liên kết và biến đổi không ngừng giữa con người với tự nhiên, thay vì xem các vấn đề môi trường như những hiện tượng tách biệt. Con người thường tập trung giải quyết những biểu hiện dễ nhìn thấy trong khi bỏ qua các mối liên hệ ẩn sâu bên dưới. Chúng ta có thể vui mừng trước việc lắp đặt các tấm pin mặt trời hay việc cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, nhưng lại vô tình bỏ qua những vật liệu độc hại đang tồn tại ngay trong các công trình được cải tạo.


Điều này giống như việc chữa trị một cái cây đang bệnh bằng cách đánh bóng những chiếc lá của nó, trong khi bỏ quên bộ rễ bên dưới.


Tư duy NQ cao khuyến khích một cách nhìn rộng hơn: hành động vì khí hậu không nên chỉ hướng tới các mục tiêu giảm phát thải carbon. Nó cũng cần nhận diện những món nợ sinh thái tích tụ trong lịch sử và các hệ quả dài hạn đang ẩn sâu trong cơ sở hạ tầng cũng như hệ giá trị của chúng ta (Khuc & Nguyen, 2026). Quá trình chuyển đổi bền vững không chỉ là xây dựng những công nghệ mới, mà còn là tháo dỡ một cách cẩn trọng những di sản có hại của quá khứ (Nguyen, 2026).


Trong Kỷ Nhân sinh, những mái nhà trên đầu chúng ta có thể đang kể một câu chuyện sâu sắc hơn: giải quyết các cuộc khủng hoảng môi trường không chỉ là xây dựng tương lai, mà còn là trách nhiệm dọn dẹp những tàn dư của ngày hôm qua.


References

Collegium Ramazzini. (2010). Asbestos is still with us: repeat call for a universal ban. Archives of Environmental & Occupational Health, 65(3), 121-126. https://doi.org/10.2478/v10001-010-0017-4

Crutzen, P. J. (2002). Geology of mankind. Nature, 415, 23. https://doi.org/10.1038/415023a

Khuc, V. Q., & Nguyen, M. H. (2026). Cultural Additivity Theory. Available at SSRN 6767760. https://ssrn.com/abstract=6767760

Krówczyńska, M., & Wilk, E. (2019) Environmental and occupational exposure to asbestos as a result of consumption and use in Poland. International Journal of Environmental Research and Public Health, 16(14), 2611. https://doi.org/10.3390/ijerph16142611

Nguyen, M.-H. (2026). Ayn Rand and Kingfisher on zero-carbon bombs and a

sustainable future. Visions for Sustainability, 25(13474), 1-13. http://dx.doi.org/10.13135/2384-8677/13474  

Tran, T. M. A. (2026). Conversations with Kingfisher: Wisdom from Vuong’s wild wise weird stories. Planet Forward. https://planetforward.org/story/kingfisher-stories/   

Virta, R. (2002). Asbestos: Geology, mineralogy, mining, and uses. U.S. Geological Survey. Open-File Report 02-149. https://pubs.usgs.gov/publication/ofr02149

Vuong, Q. H. (2025). Wild Wise Weird. AISDL. https://books.google.com/books?id=C5dDEQAAQBAJ  Wilk, E., & Krówczyńska, M. (2025). The climate crisis and EU in the Anthropocene: May European Green Deal affect asbestos removal?. The Anthropocene Review, 13(1), 20530196251399162. https://doi.org/10.1177/20530196251399162

Zalasiewicz, J., et al. (2014). The technofossil record of humans. The Anthropocene Review, 1(1), 34-43. https://doi.org/10.1177/2053019613514953

 


 
 
 

Bình luận

Đã xếp hạng 0/5 sao.
Chưa có xếp hạng

Thêm điểm xếp hạng
bottom of page